Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Hàng hóa sản xuất hoặc nhập khẩu chỉ phải nộp thuế bảo vệ môi trường một lần

- 0 nhận xét
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 08/08/2011, quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường. Nghị định đã quy định rõ các đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ mội trường.

Đối tượng chịu thuế đối với các loại xăng, dầu, mỡ nhờn là các loại xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch. Đối với nhiên liệu hỗn hợp chứa nhiên liệu sinh học và xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch, chỉ tính thu thuế bảo vệ môi trường đối với phần xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch
.

Đối với dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (ký hiệu HCFC) là loại gas dùng làm môi chất sử dụng trong thiết bị lạnh và trong công nghệ bán dẫn. Đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) theo quy định là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene rein), LDPE (Low density polyethyle) hoặc LLDPE (linear low density polyethylene rein), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đối với thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc trừ mối thuộc lại hạn chế sử dụng, thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng và thuộc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng
.

Theo quy định tại Nghị định, hàng hóa sản xuất hoặc nhập khẩu chỉ phải nộp thuế bảo vệ môi trường một lần
.

Trường hợp hàng hóa xuất khẩu đã nộp thuế bảo vệ môi trường nhưng phải nhập khẩu trở lại Việt Nam thì không phải nộp thuế bảo vệ môi trường khi nhập khẩu
.

Đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho thực hiện khai thuế, tính thuế và nộp thuế theo tháng. Đối với hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa nhập ủy thác thực hiện khai thuế, tính thuế và nộp thuế theo từng lần phát sinh
.

Các công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối thực hiện khai, nộp thuế vào ngân sách nhà nước đối với lượng xăng dầu xuất, bán tại địa phương nơi kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng. Đối với than thực hiện theo nguyên tắc: than tiêu thụ nội địa phải khai, nộp thuế bảo vệ môi trường; than xuất khẩu không thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường
.

Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012./.

Minh Phương - TCHQ
[Continue reading...]

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Lạ đời chuyện hàng nhập không có tên trong danh mục quản lý

- 0 nhận xét
Trong quá trình thực hiện Thông tư 24/2010/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Cục Hải quan địa phương đã gặp phải vướng mắc vì theo Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư này, một số mặt hàng không có tên trong Danh mục và Biểu thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Theo quy định tại Thông tư số: 24/2010/TT-BNNPTNT thì hàng hóa thuộc Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụnng; Danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng; Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng ở Việt Nam phải thỏa mãn cả ba điều kiện là có mã số HS, tên hoạt chất-nguyên liệu (common name), tên thương phẩm (trade name – bao gồm cả tên thương phẩm, hàm lượng và dạng thuốc).

Tuy nhiên, nhiều mã số HS quy định tại các Danh mục thuốc bảo vệ thực vật ban kèm Thông tư 24/2010/TT-BNNPTNT không có trong Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 107/2007/QĐ-BTC và Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Thông tư số 184/2010/TT-BTC. Cụ thể, mặt hàng thuốc trừ sâu – mã số HS 3808.10; 380820; thuốc trừ cỏ - mã số HS 3808.30; thuốc điều hòa sinh trưởng – mã số HS 3808.30…là những mã số HS không có trong Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu và Biểu thuế nêu trên. Chính vì sự mâu thuẫn này nên các Cục Hải quan địa phương đã không có cơ sở để xác định hàng hóa được hay không được phép nhập khẩu để sử dụng ở Việt Nam.

Để tạo thuận lợi cho các Cục Hải quan địa phương và Doanh nghiệp trong việc thực hiện Thông tư 24/2010/TT-BNNPTNT, Tổng cục Hải quan đề nghị Cục Bảo vệ thực vật (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) phối hợp với Tổng cục Hải quan xem xét lại để thống nhất mã số đối với các mặt hàng thuốc nhập khẩu ban hành kèm theo Thông tư này.

(Theo Diễn đàn doanh nghiệp)
[Continue reading...]

Quy định NK điện thoại di động, ôtô, mỹ phẩm, rượu: Chưa hết “vướng”

- 0 nhận xét
Công văn số 6318/BCT-XNK mới đây của Bộ Công Thương được các DN rất hoan nghênh vì đã nới bớt quy định “siết” các mặt hàng xa xỉ nhập khẩu. Tuy nhiên, cơ quan hải quan và DN vẫn chưa hết “vướng” khi thực hiện Thông tư số: 20/2011/TT-BCT và Thông báo số 197/TB-BCT.

Trong công văn gửi Bộ Công Thương ngày 20/7/2011, Tổng cục Hải quan cho rằng nội dung Công văn số
6318/BCT-XNK mới chỉ giải đáp một số vướng mắc liên quan đến việc thực hiện Thông báo số: 197/TB-BCT , Thông tư 20, còn một số vướng mắc khác đã được nêu tại điểm 3 mục I Công văn số: 3276/TCHQ-GSQL mà TCHQ gửi Bộ Công Thương vào ngày 11/7/2011 vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể.

Nội dung Công văn số: 3276/TCHQ-GSQL có nêu một số vướng mắc mà cơ quan hải quan vẫn đang bị “vuớng” như: lô hàng là cụm linh kiện, phụ tùng, phụ kiện điện thoại di động (mặt trước, mặt sau, thân máy, pin, cục sạc...) chia thành nhiều chuyến hàng, lô hàng để NK có được NK không ? Ngoài ra, theo quy định tại
Thông báo số: 197/TB-BCT và Thông tư số: 20/2011/TT-BCT của Bộ Công Thương thì các lô hàng về đến cảng kể từ ngày các văn bản này có hiệu lực (từ ngày 1/6/2011 đối với Thông báo số: 197/TB-BCT và từ ngày 26/6/2011 đối với Thông tư số: 20/2011/TT-BCT ), DN phải xuất trình Giấy chỉ định hoặc ủy quyền là nhà phân phối, nhà NK của chính hàng sản xuất khi làm thủ tục hải quan. Tuy nhiên, do các lô hàng đã được ký hợp đồng NK xếp lên phương tiện vận chuyển lô hàng trước ngày ban hành hoặc trước ngày có hiệu lực thi hành của Thông báo số: 197/TB-BCT và Thông tư số: 20/2011/TT-BCT , đã được Bộ Công Thương cấp giấy phép NK tự động hoặc chưa được cấp giấy phép NK tự động, nhưng DN đã thanh toán tiền lô hàng và lô hàng đến cửa khẩu nhập sau ngày các văn bản trên có hiệu lực; theo đó, DN không thể xuất trình được Giấy chỉ định hoặc ủy quyền là nhà phân phối, nhà NK của chính hãng khi làm thủ tục hải quan nên không thể làm thủ tục thông quan cho các lô hàng và DN cũng không thể tái xuất trả lại chủ hàng nước ngoài do các lô hàng đã được thanh toán.

Cục Hải quan địa phương và DN kiến nghị TCHQ và Bộ Công Thương cho phép làm thủ tục NK các lô hàng đã được ký hợp đồng và xếp lên phương tiện vận chuyển lô hàng trước ngày
Thông báo số: 197/TB-BCT và Thông tư số: 20/2011/TT-BCT có hiệu lực.

Để tránh ách tắc hàng hóa tại các cửa khẩu nhập và giải quyết vướng mắc, kiến nghị của các Cục Hải quan địa phương cũng như DN, TCHQ đề nghị Bộ Công Thương sớm có hướng dẫn xử lý cụ thể để TCHQ hướng dẫn các Cục Hải quan địa phương và các đối tượng có liên quan thống nhất thực hiện.

(Theo Diễn đàn doanh nghiệp)
[Continue reading...]

Hàng điện, điện tử XNK phải công bố hàm lượng hoá chất độc hại

- 0 nhận xét
Các sản phẩm điện, điện tử được sản xuất, nhập khẩu phải thực hiện việc công bố thông tin về giới hạn hàm lượng cho phép của một số hóa chất độc hại. Theo đó, tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu sản phẩm điện, điện tử đều phải tuân thủ quy định này.

Đây là nội dụng của Thông tư
30/2011/TT-BCT quy định tạm thời về giới hạn hàm lượng cho phép của một số hóa chất độc hại trong sản phẩm điện, điện tử mà Bộ Công Thương mới ban hành.

Theo đó, có 8 nhóm sản phẩm điện, điện tử lưu thông trên thị trường Việt Nam phải đảm bảo giới hạn hàm lượng cho phép của một số hóa chất độc hại được quy định.


Cụ thể gồm: thiết bị gia dụng loại lớn, thiết bị gia dụng loại nhỏ, thiết bị công nghệ thông tin và truyền thông, thiết bị tiêu dùng, thiết bị chiếu sáng, công cụ điện, điện tử (trừ các công cụ lớn, cố định sử dụng trong công nghiệp), đồ chơi, thiết bị giải trí, thể thao, dụng cụ đo lường tự động.


Thông tư
30 quy định, hóa chất độc hại bị giới hạn trong sản phẩm điện, điện tử gồm: chì (Pb), cadimi (Cd), thủy ngân (Hg), crom hóa trị 6 (Cr6+), polybrominated biphenyl (PBB) và polybrominated diphenyl ete (PBDE).

Đối với Pb hàm lượng giới hạn cho phép là 0,1% khối lượng; Hg hàm lượng giới hạn cho phép là 0,1% khối lượng; Cd hàm lượng giới hạn cho phép là 0,01% khối lượng; Cr6+ hàm lượng giới hạn cho phép là 0,1% khối lượng; PBB hàm lượng giới hạn cho phép là 0,1% khối lượng; PBDE hàm lượng giới hạn cho phép là 0,1% khối lượng
.

Các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm điện, điện tử phải có trách nhiệm đảm bảo các sản phẩm điện, điện tử được sản xuất hoặc nhập khẩu có hàm lượng các hóa chất độc hại không vượt quá giới hạn được quy định được quy định tại thông tư
.

Thông tư
30 có hiệu lực thi hành từ ngày 23/9/2011 và được thực hiện cho đến khi có Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia tương ứng thay thế.

Hải Yến - INFOTV
[Continue reading...]

Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2011 tăng 26%

- 0 nhận xét
Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam tháng 7/2011 đạt 40,7 triệu USD, giảm 24,7% so với tháng trước và giảm 23,1% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2011 đạt 346,8 triệu USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 0,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước 7 tháng đầu năm 2011.

Trung Quốc dẫn đầu thị trường về kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2011 đạt 73,7 triệu USD, tăng 138% so với cùng kỳ, chiếm 21,3% trong tổng kim ngạch.

Phần lớn thị trường xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2011 đều có tốc độ tăng trưởng mạnh: Indonesia đạt 28,2 triệu USD, tăng 167,7% so với cùng kỳ, chiếm 8,1% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là Trung Quốc; Hàn Quốc đạt 13,2 triệu USD, tăng 95,8% so với cùng kỳ, chiếm 3,8% trong tổng kim ngạch; Anh đạt 3,4 triệu USD, tăng 85,8% so với cùng kỳ, chiếm 1% trong tổng kim ngạch; sau cùng là Ôxtrâylia đạt 5,4 triệu USD, tăng 81% so với cùng kỳ, chiếm 1,6% trong tổng kim ngạch.

Ngược lại, một số thị trường xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2011 có độ suy giảm: Italia đạt 1,8 triệu USD, giảm 52,8% so với cùng kỳ, chiếm 0,5% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là Campuchia đạt 2,4 triệu USD, giảm 16,6% so với cùng kỳ, chiếm 0,7% trong tổng kim ngạch; sau cùng là Đài Loan đạt 11 triệu USD, giảm 3,7% so với cùng kỳ, chiếm 3,2% trong tổng kim ngạch.

Thị trường xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2011.

Thị trường
Kim ngạch XK 7T/2010 (USD)
Kim ngạch XK 7T/2011 (USD)
% tăng, giảm KN so với cùng kỳ
Tổng
275.045.660
346.793.546
+ 26
Anh
1.830.082
3.399.704
+ 85,8
Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất

3.232.240

Campuchia
2.922.293
2.436.749
- 16,6
Canada
3.840.010
5.524.421
+ 43,9
Cô oét

936.137

Đài Loan
11.651.155
11.222.583
- 3,7
Đức
3.755.221
6.216.134
+ 65,5
Hà Lan
19.467.625
18.752.665
- 3,7
Hàn Quốc
6.726.680
13.167.891
+ 95,8
Hoa Kỳ
14.088.563
15.777.374
+ 12
Hồng Kông
3.119.437
3.683.315
+ 18
Indonesia
10.521.738
28.170.616
+ 167,7
Italia
3.808.627
1.798.962
- 52,8
Lào

5.149.045

Malaysia
4.556.173
6.671.444
+ 46,4
Nga
14.437.053
18.867.163
+ 30,7
Nhật Bản
19.949.271
25.353.583
+ 27
Ôxtrâylia
2.971870
5.380.014
+ 81
Pháp
3.508.616
5.234.466
+ 49,2
Singapore
8.688.076
9.235.921
+ 6,3
Thái Lan
5.072.068
7.981.472
+ 57,4
Trung Quốc
30.985.272
73.743.509
+ 138
Ucraina
356.297
527.362
+ 48

Tham khảo giá xuất khẩu một số mặt hàng rau quả của Việt Nam trong 10 ngày cuối tháng 7/2011:

Dứa sấy dẻo 200g
thùng
$35.18
Cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh)
DAF
Mận sấy dẻo 200g
thùng
$35.18
Cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh)
DAF
Mít sấy khô 150gr : 30gói/thùng, 01thùng=4.5kg
thùng
$32.03
Cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh)
DAF
Khoai môn sấy khô 250gr ; 20gói/thùng, 01thùng=5kg
thùng
$31.54
Cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh)
DAF
Chuối sấy khô LV 250gr : 24gói/thùng, 01thùng=6kg
thùng
$30.28
Cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh)
DAF
QUả MĂNG CụT TƯƠI
kg
$0.87
Cửa khẩu Cốc Nam (Lạng Sơn)
DAF
Quả nhãn khô
kg
$0.50
Cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn)
DAF
Trái thanh long (hàng đóng đồng nhất 23kg/ thùng)
kg
$0.40
Cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn)
DAF
Nước dừa tươi-250gx30, hàng mới 100%
thùng
$10.63
ICD Phúc Long (Sài Gòn)
FOB
Vải hộp nước đường (12 hộp/Carton)
thùng
$9.20
Cảng Hải Phòng
FOB
Sả xay-200gx30, hàng mới 100%
thùng
$8.17
ICD Phúc Long (Sài Gòn)
FOB
KHóM IQF, PACKING : 10 KG/PE BAG/CTN
tấn
$1,215.00
Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)
FOB
Trái thanh long (10KGS/CTN)
thùng
$5.00
Cảng Vict
FOB
Dứa đóng hộp 30 oz , 830 gr x 24 hộp / ctn , nhãn hiệu : VEGETEXCO , Hàng sản xuất tại Việt Nam
thùng
$26.00
Cảng Vict
FOB
Xoài đông lạnh( 1 thùng = 10 kgs )
thùng
$22.00
ICD III -Transimex (Cang SG khu vuc IV)
FOB
Khoai tây
kg
$0.40
Cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh)
DAF
Vải thiều
kg
$0.20
Cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh)
DAF
[Continue reading...]

Nhập khẩu hàng hoá từ Ấn Độ 7 tháng đầu năm 2011 tăng 34% về kim ngạch

- 0 nhận xét
Theo số liệu thống kê, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Ấn Độ tháng 7/2011 đạt 131,5 triệu USD, giảm 8,3% so với tháng trước nhưng tăng 26,5% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Ấn Độ 7 tháng đầu năm 2011 đạt 1,3 tỉ USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 2,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của cả nước 7 tháng đầu năm 2011.

Thức ăn gia súc và nguyên liệu dẫn đầu mặt hàng về kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Ấn Độ 7 tháng đầu năm 2011 đạt 363,9 triệu USD, tăng 65,6% so với cùng kỳ, chiếm 27% trong tổng kim ngạch.

Trong 7 tháng đầu năm 2011, một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ có tốc độ tăng trưởng mạnh: Hàng thuỷ sản đạt 14 triệu USD, tăng 468% so với cùng kỳ, chiếm 1% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là giấy các loại đạt 10,3 triệu USD, tăng 190,2% so với cùng kỳ, chiếm 0,8% trong tổng kim ngạch; sắt thép các loại đạt 32,8 triệu USD, tăng 149,3% so với cùng kỳ, chiếm 2,4% trong tổng kim ngạch; sau cùng là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 129 triệu USD, tăng 104,6% so với cùng kỳ, chiếm 9,6% trong tổng kim ngạch.

Ngược lại, một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ 7 tháng đầu năm 2011 có độ suy giảm: Kim loại thường khác đạt 33,9 triệu USD, giảm 52,1% so với cùng kỳ, chiếm 2,5% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là sản phẩm từ cao su đạt 2,2 triệu USD, giảm 31,2% so với cùng kỳ, chiếm 0,2% trong tổng kim ngạch; nguyên phụ liệu thuốc lá đạt 19,7 triệu USD, giảm 19,6% so với cùng kỳ, chiếm 1,5% trong tổng kim ngạch; sau cùng là dầu mỡ động thực vật đạt 2 triệu USD, giảm 15,2% so với cùng kỳ, chiếm 0,2% trong tổng kim ngạch.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Ấn Độ 7 tháng đầu năm 2011.

Mặt hàng
Kim ngạch NK 7T/2010 (USD)
Kim ngạch NK 7T/2011 (USD)
% tăng, giảm KN so với cùng kỳ
Tổng
1.005.053.535
1.346.800.258
+ 34
Hàng thuỷ sản
2.459.011
13.969.483
+ 468
Sữa và sản phẩm sữa

828.360

Ngô

103.429.319

Dầu mỡ động thực vật
2.474.503
2.098.271
- 15,2
Thức ăn gia súc và nguyên liệu
219.792.451
363.941.790
+ 65,6
Nguyên phụ liệu thuốc lá
24.529.714
19.731.759
- 19,6
Sản phẩm khác từ dầu mỏ
5.494.920
6.386.620
+ 16,2
Hoá chất
29.078.183
30.655.383
+ 5,4
Sản phẩm hoá chất
36.430.652
36.740.903
+ 0,9
Nguyên phụ liệu dược phẩm
27.007.131
31.141.132
+ 15,3
Dược phẩm
96.038.419
125.882.655
+ 31
Phân bón các loại
3.386.086
3.662.196
+ 8,2
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu
31.855.296
32.124.801
+ 0,8
Chất dẻo nguyên liệu
35.032.367
48.300.691
+ 37,9
Sản phẩm từ chất dẻo
2.741.251
4.608.894
+ 68,1
Sản phẩm từ cao su
3.250.686
2.237.116
- 31,2
Giấy các loại
3.553.789
10.313.490
+ 190,2
Sản phẩm từ giấy

162.487

Bông các loại
76.851.601
80.049.718
+ 4,2
Xơ, sợi dệt các loại
29.758.991
38.957.141
+ 30,9
Vải các loại
18.803.229
21.896.956
+ 16,5
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
32.388.664
34.498.036
+ 6,5
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

4.164.638

Sắt thép các loại
13.153.626
32.791.744
+ 149,3
Sản phẩm từ sắt thép
9.795.250
                                                                                                    13.129.393
+ 34
Kim loại thường khác
70.696.474
33.893.790
- 52,1
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
2.369.327
3.279.180
+ 38,4
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
63.168.743
129.254.010
+ 104,6
Ôtô nguyên chiếc các loại

23.532.262

Linh kiện, phụ tùng ôtô
8.487.145
11.641.137
+ 37,2

Tham khảo giá một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ trong 10 ngày cuối tháng 7/2011:

Mặt hàng
Đvt
Đơn giá
Cửa khẩu
Đkgh
Cám gạo trích ly dùng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi ( Hàng nhập phù hợp QĐ90/2006 BNN PTNT)
tấn
$173.00
Cảng Hải Phòng
CFR
Nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi : Khô dầu hạt cải - RAPE SEED EXTRACTION MEAL
tấn
$221.00
ICD Phước Long Thủ Đức
CFR
Khô dầu đậu nành - NLSXTAGS. Màu mùi đặc trưng không có mùi chua mốc. Hàm lượng protein 47.29%, độ ẩm 11.86%.Aflatoxin <50ppb. Hàm lượng Ure theo mg N/1 phút ở 30 độ C <20
tấn
$412.05
Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)
CFR
Thép không gỉ cán nóng dạng tấm (5.0-10.0)MM X (1170-1250) X (2438-6000)MM Mới 100%
tấn
$1,710.00
Cảng Hải Phòng
C&F

[Continue reading...]

Tháo gỡ thủ tục nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản cho sản xuất, xuất khẩu

- 0 nhận xét
Bộ Tài Chính đã có công văn trả lời kiến nghị của VASEP về các giải pháp cho thủ tục NK nguyên liệu thủy sản phục vụ sản xuất, XK. Tại công văn này, Bộ Tài Chính đã đồng ý với phấn lớn kiến nghị của VASEP...

Trước đó, ngày 29/3/2011, Hiệp hội Chế biến và XK Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã gửi công văn kiến nghị số 08/2011/VASEP-VPĐD về vấn đề này.

Bộ Tài Chính đồng ý với kiến nghị của VASEP rằng, đối với các lô hàng XK, NK khai báo sai về số lượng hàng hóa trên tờ khai so với thực tế XK, NK và trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn kiểm tra thực tế hàng hóa được khai bổ sung về số lượng nếu đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 12, Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

Tuy nhiên, với kiến nghị xem xét cho mặt hàng thủy sản được chuyển sang diện hoàn thuế trước, kiểm tra hồ sơ hoàn thuế sau để trong trường hợp DN phải tạm nộp thuế sau đó xin hoàn lại khi xuất đi thì thủ tục hoàn thuế được nhanh chóng hơn, giúp DN quay được vòng vốn. Bộ Tài Chính đề nghị các DN chế biến, XK thủy sản thực hiện đúng theo quy định tại Điều 60, Luật quản lý thuế, khoản 1 Điều 30 Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày25/5/2007 của Chính phủ thì cơ quan quản lý thuế thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra hồ sơ hoàn thuế sau theo quy định của pháp luật đã được hướng dẫn cụ thể tại Điều 128 Thông tư số 194/TT-BTC ngày 6/12/2010.

Còn trong trường hợp DN NK một lô nguyên liệu từ nước ngoài về sản xuất chế biến, sau đó bán lại cho phía nước ngoài, hai bên thỏa thuận việc thanh toán giữa hai bên sẽ được thực hiện theo phương pháp bù trừ giữa giá trị hàng XK và trị giá hàng hóa của phía nước ngoài. 

Để bù trừ hết trị giá hàng của lô nguyên liệu nhập từ nước ngoài, DN cần phải xuất đến 5 chuyến hàng XK, nếu chỉ mới xuất đến chuyến thứ 3 mà cần phải làm hồ sơ xin không thu thuế hoặc hoàn thuế thì số tiền chênh lệch mà DN còn nợ phía nước ngoài phải được thực hiện thanh toán qua ngân hàng mới đủ hồ sơ để nộp thanh khoản xin không thu thuế cho phần nguyên liệu NK đã sử dụng trong 3 lô hàng đã xuất (theo quy định tại phần 4.6, mục c trong Phụ lục 1 – Thông tư 194/2010/TT-BTC). 

Điều này làm DN buộc phải mua ngoại tệ để thanh toán cho khách hàng mà không được phép cấn trừ cho những lô hàng tiếp theo. Việc này cũng gây mất cân đối ngoại tệ cho DN. Do đó, Thông tư cần bổ sung nội dung cho phép DN còn nợ tiền khách hàng nước ngoài thì khoản tiền nợ đó được phép cấn trừ cho những lô hàng tiếp theo để DN chủ động được nguồn vốn, không phải mua ngoại tệ trả cho khách hàng.

Bộ Tài Chính đồng ý với kiến nghị của VASEP về việc cho phép DN thực hiện kiểm tra trước, hoàn thuế sau đối với nguyên liệu NK cấu thành trong sản phẩm XK đã được bù trừ từ phía nước ngoài. Số tiền chênh lệch còn lại mà DN còn nợ tiền khách hàng nước ngoài thì khoản nợ đó được phép cấn trừ cho các lô hàng tiếp theo.
[Continue reading...]

Xuất khẩu sang châu Phi 7 tháng đầu năm tăng 209% so với cùng kỳ

- 0 nhận xét
Theo Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 7tháng đầu năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta sang các thị trường chính của châu Phi đạt xấp xỉ 2,1tỷ USD, tăng 209% so với cùng kỳ năm ngoái.

Các thị trường có kim ngạch xuất khẩu tăng gồm Nam Phi, đạt 1,5 tỷ USD, tăng 576%; Senegal đạt 154 triệu USD, tăng 305%; Algeria đạt 68 triệu USD, tăng 58%; Bờ Biển Ngà đạt 89 triệu USD, tăng 17%; Ghana đạt 75 triệu USD, tăng 36% và Ai Cập đạt 124 triệu, tăng 27%%.

Nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất sang Nam Phi là đá quý, kim loại quý lên tới 1,36 tỷ USD, tiếp đến là điện thoại và linh kiện, 51 triệu USD, giày dép 32 triệu USD.

Gạo tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta tại nhiều quốc gia châu Phi như Senegal (đạt 143 triệu USD), Bờ Biển Ngà (86 triệu USD), Ghana (56 triệu USD), Angola (21 triệu USD)…

Các mặt hàng xuất khẩu chính sang thị trường Ai Cập gồm hàng thủy sản (38,5 triệu USD), hạt tiêu (20,5 triệu USD), xơ, sợi dệt (12,2 triệu USD).
[Continue reading...]

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Xuất khẩu sang Đức 6 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ

- 0 nhận xét
Theo số liệu thống kê chính thức của TCHQ, nửa đầu năm 2011 Việt Nam đã thu về 1,5 tỷ USD từ thị trường Đức, tăng 44,94% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Đức tháng 6 đạt 264,3 triệu USD, tăng 3,73% so với tháng liền kề trước đó.
Đức là một nước dân số đông, với hơn 82 triệu người, lại là nước có thu nhập cao, sẽ là thị trường tiềm năng cho hàng dệt may Việt Nam.
6 tháng đầu năm 2011, Việt Nam đã xuất khẩu 277,6 triệu USD hàng dệt may sang Đức, chiếm 18,9% thị phần, tăng 45,5% so với 6 tháng năm 2010. Tính riêng tháng 6, Việt Nam đã xuất 68,5 triệu USD hàng dệt may sang Đức, tăng 27,44% so với tháng liền kề trước đó.
Người dân Đức không quá đòi hỏi yêu cầu về kiểu cách và mẫu mã, quan trọng là chất lượng thành phẩm và sự kỳ công của nhà sản xuất được thể hiện qua mũi kim đường chỉ, do đó đây sẽ là lợi thế cho hàng dệt may Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam khi muốn đưa hàng dệt may vào thị trường Đức, buộc phải tuân thủ quy chuẩn của cả EU và của Đức. Tuy nhiên, so với luật chung của EU thì luật của Đức nghiêm ngặt hơn.
Trong đó cần chú trọng đến 3 tiêu chuẩn: chất lượng, vệ sinh sản phẩm và trách nhiệm xã hội.
Ngoài ra, khi sử dụng nguyên phụ liệu dệt may, doanh nghiệp nên tránh các chất gây cháy như PPF hoặc nguyên liệu có tính chất tẩy trùng, bởi với các chất không đảm bảo về tiêu chuẩn chất lượng thì hải quan Đức sẽ tiêu huỷ và chi phí tiêu huỷ do phía Việt Nam chi trả.
Với một thị trường bán lẻ trong nước ổn định, kết hợp với xu hướng sản xuất. Xuất khẩu Giày Dép đang giảm dần theo từng năm, Đức là thị trường đầy tiềm năng đối với các nhà xuất khẩu đến từ những nước đang phát triển. Hiện nay, các nhà cung cấp giày dép chính của châu á vẫn có vị thế vững chắc trên thị trường Đức. Mặc dù hiện mới chỉ chiếm một phần nhỏ trong thị phần nhập khẩu giày dép, nhưng giày vải đang có xu hướng tăng mạnh Xuất Khẩu Giày Dép trong thời gian gần đây. Đây sẽ là một cơ hội tốt cho các doanh nghiệp sản xuất giày xuất khẩu sang thị trường Đức, đặc biệt là các loại giày có kiểu dáng thể thao đang được giới trẻ Đức ưa dùng. Thị phần giày cao su và giày nhựa cũng là một khe thị trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Theo số liệu thống kê, thì kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam đứng thứ 2 sau mặt hàng dệt may trong nửa đầu năm 2011, đạt 186 triệu USD, chiếm 12,39% thị phần, tăng 14,94% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tháng 6 kim ngạch mặt hàng này xuất sang Đức đạt 42,7 triệu USD, tăng 21,16% so với tháng 5.
Hiện nay, mặc dù là nước xuất khẩu giày dép lớn thứ ba của Đức, song về giá trị và số lượng xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với hai nước đứng đầu là Trung Quốc và Italia. Để nâng cao vị thế của mình, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải có Xuất Khẩu Giày Dép chất lượng tốt, ít nhất cũng ngang bằng với các nước khác và giá cả phải rẻ hơn để có thể cạnh tranh được. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chú ý tới xu hướng nhập khẩu và thị hiếu tiêu dùng của Đức để có thể chủ động ký kết được các hợp đồng lớn.
Đứng thứ 3 về kim ngạch trong nửa đầu năm này là mặt hàng thủy sản với 122,9 triệu USD, chiếm 8,1% thị phần, tăng 43,96% so với cùng kỳ năm 2010. Riêng trong tháng 6, kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản sang Đức lại giảm 5,01% so với tháng liền kề trước đó, đạt 21,2 triệu USD.
Ngay từ những tháng đầu năm, giá trị XK cá ngừ sang Đức liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số và đến tháng 4/2011, thị trường này đã vượt qua Italia để đứng đầu trong khối EU về giá trị NK cá ngừ từ Việt Nam. Theo số liệu thống kê, từ đầu năm đến nay đã có 8 DN XK cá ngừ sang Đức, đạt khối lượng gần 3 nghìn tấn, trị giá khoảng 7,8 triệu USD, tăng 39,1% về khối lượng và 41,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, mặt hàng XK chủ yếu là sản phẩm cá ngừ chế biến đóng hộp (mã HS 16) đạt 6,7 triệu USD chiếm tới 87% tổng giá trị XK cá ngừ sang Đức, sản phẩm cá ngừ nguyên liệu (mã HS 03) đạt trên 1 triệu USD chiếm 13%.
Sự chênh lệch đáng kể về tỷ trọng của hai nhóm sản phẩm cá ngừ XK nói trên cho thấy nhu cầu các sản phẩm giá trị gia tăng tại Đức cao hơn, vì vậy các DN XK cần nắm bắt được nhu cầu của từng thị trường nói riêng để có định hướng chiến lược sản phẩm đúng đắn và tăng cường XK các sản phẩm có chất lượng và giá trị cao hơn nhằm đạt lợi nhuận nhiều hơn cho DN và góp phần thu nhiều ngoại tệ về cho đất nước.
Đối với xuất khẩu sản phẩm nhựa, Đức luôn là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng. Trong đó, xuất khẩu tới thị trường này luôn nằm trong top 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 1 năm trở lại đây và trong những tháng gần đây thị trường này thương ở vị trí thứ 3 hoặc thứ 4.
Nửa đầu năm 2011, Việt Nam đã xuất khẩu 47,9 triệu USD sản phẩm nhựa sang Đức, chiếm 3,2% thị phần, tính riêng tháng 6 đã xuất khẩu 9,2 triệu USD sản phẩm nhựa sang thị trường Đức, tăng 6,5% so với tháng 5.
Tóm lại, những mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Đức chủ yếu là hàng may mặc và giày dép, chiếm tỷ lệ cao khoảng 70 - 80% nhưng chủ yếu là gia công nên sản phẩm xuất khẩu thường mang nhãn mác của các công ty lớn trên thế giới.
Sản phẩm mang nhãn mác của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, do trong thời gian qua chúng ta vẫn khuyến khích may gia công xuất khẩu sang Đức, nhưng trong thời gian tới cũng nên tìm cách để các mặt hàng này của Việt Nam sẽ thâm nhập sâu hơn vào thị trường Đức.
Trong số những mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Đức, vẫn còn tản mạn, chưa có số lượng lớn và hầu hết là chính các sản phẩm của Việt Nam đang cạnh tranh với chính sản phẩm của Việt Nam (như hàng thủ công mỹ nghệ...).
Đcó thể tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Đức, những điểm yếu nào mà các doanh nghiệp Việt Nam cần phải khắc phục.Như, doanh nghiệp Việt Nam tuy có những thế mạnh nhưng chúng ta chưa phát huy được thế mạnh của mình. Đặc biệt là thế mạnh để sản xuất hàng xuất khẩu từ nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước thì các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa khai thác được, trong khi nhu cầu của thị trường Đức đối với những sản phẩm đó rất lớn. Những sản phẩm truyền thống của các làng nghề: thêu ren, đúc, chạm, đan lát... do chưa áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản phẩm nên chưa cải tiến được mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của từng thị trường. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải có kế hoạch đầu tư để có thể cho ra đời nhiều sản phẩm mẫu mã mới, nâng cao giá trị hàng hóa.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi tư duy.
Thường thì các doanh nghiệp chú trọng sản xuất những sản phẩm quen dùng và cứ sản xuất cho tới khi không bán được sản phẩm nữa thì mới thôi. Vì vậy, để phát triển, các doanh nghiệp nên có một mức chi phí trả cho các nhà khoa học để họ nghiên cứu những mẫu mã hợp lý.
Nước Đức có 82 triệu dân nhưng có tới 4 triệu doanh nghiệp, trong số đó có 1,5 triệu doanh nghiệp một thành viên và những doanh nghiệp này làm ăn rất hiệu quả. Còn Việt Nam mới chỉ có khoảng 200.000 doanh nghiệp như vậy. Với số lượng 4 triệu doanh nghiệp, Đức có đủ khả năng và tiềm năng để các doanh nghiệp Việt Nam đặt quan hệ giao thương.
Thời gian qua, mặc dù Thương vụ Việt Nam tại Đức đã rất cố gắng để thông tin cho các doanh nghiệp Đức về tên các doanh nghiệp Việt Nam, về tiềm năng xuất nhập khẩu của Việt Nam, nhưng phần lớn họ vẫn chưa hiểu được các doanh nghiệp của Việt Nam đã làm ăn được những gì.
Tuy nhiên, thời điểm này, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, điều này sẽ làm tăng vị thế của Việt Nam. Vì vậy, chắc chắn các doanh nghiệp của Đức sẽ hiểu biết hơn về các doanh nghiệp Việt Nam và sẽ cùng thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh doanh phát triển hơn.
Hiện nay, có 9 vạn người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn tại Đức, trong đó có khoảng 70% tham gia kinh doanh tại 11 trung tâm của châu Á và trung tâm kinh tế – văn hoá và thương mại tại thủ đô Berlin. Bên cạnh đó, Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Đức đã được thành lập, đây sẽ là “cầu nối” liên kết giữa doanh nghiệp người Việt Nam ở Đức và giữa doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp Đức.
Những lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh xuất, nhập khẩu đối với thị trường Đức:
Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam trước khi đặt quan hệ làm ăn với doanh nghiệp nào của Đức thì nên thăm dò uy tín của doanh nghiệp đó trước (về quy mô doanh nghiệp, hoạt động ra sao, tình hình tài chính như thế nào, hiện tại có khả năng buôn bán hay không) bởi thực tế không phải doanh nghiệp nào của Đức cũng hoạt động “ngon lành”.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng không nên quan niệm rằng muốn vươn ra thị trường nên bằng mọi cách xuất được hàng bởi hiện nay có khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam bị các doanh nghiệp Đức chiếm dụng vốn (có những doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn tới gần 1 triệu USD, đặc biệt là trong ngành thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ).
Thứ hai, các doanh nghiệp nên phát triển theo hướng chuyên doanh, có chiến lược kinh doanh tập trung và tạo được nguồn hàng lớn, không nên sản xuất, kinh doanh tổng hợp để tạo ra những cạnh tranh không lành mạnh lẫn nhau trong nội bộ các doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ ba, khi xuất khẩu hàng sang Đức, nhất thiết phải xuất những hàng hoá chất lượng, không xuất hàng tạp. Đặc biệt là các mặt hàng may mặc, giày dép, nếu chúng ta xuất hàng tạp sẽ không thể cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc vốn đang chiếm lĩnh hầu hết thị trường này.
Mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Đức tháng 6, 6 tháng năm 2011
ĐVT: USD

KNXK T5/2011
KNXK T6/2011
KNXK 6T/2011
% tăng giảm KN so với T5/2011
Tổng kim ngạch
254.835.809
264.336.459
1.501.622.334
3,73
Hàng dệt, may
53.763.450
68.513.699
277.618.187
27,44
Giày dép các loại
35.303.783
42.773.972
186.045.279
21,16
Hàng thuỷ sản
22.415.434
21.293.046
122.934.951
-5,01
Cà phê
34.900.260
16.073.886
188.916.087
-53,94
Cao su
9.652.622
10.186.775
53.924.596
5,53
Sản phẩm từ chất dẻo
8.700.944
9.273.249
47.996.330
6,58
Túi xách, ví, vali, mũ và ôdù
7.243.131
8.727.821
43.267.929
20,50
Hạt tiêu
5.004.445
7.465.133
41.831.608
49,17
Gỗ và sản phẩm gỗ
6.691.323
6.728.675
58.499.227
0,56
Sản phẩm từ sắt thép
6.439.940
6.119.877
38.672.634
-4,97
máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác
5.438.832
5.275.348
28.430.770
-3,01
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
3.413.637
4.606.832
20.477.623
34,95
Sản phẩm mây, tre, cói và thảm
1.956.282
1.826.685
13.668.153
-6,62
Sản phẩm gốm, sứ
1.013.521
1.513.195
12.465.334
49,30
Máy ảnh, máyquay phim và linh kiện

1.292.284
10.018.398
*
Sản phẩm hóa chất

1.093.936
2.628.940
*
hàng rau quả
912.570
1.078.191
6.029.184
18,15
Sản phẩm từ cao su
1.096.177
1.035.405
7.480.784
-5,54
Hạt điều
1.823.460
932.950
8.049.223
-48,84
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc
845.565
755.088
5.135.734
-10,70
Phương tiện vân tải và phụ tùng
531.650
590.016
14.221.764
10,98
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm
341.574
371.948
2.267.832
8,89
Chè
451.029
250.320
1.860.266
-44,50
Sắt thép

82.925
431.679
*
Giấy và các sản phẩm từ giấy
136.444
75.898
1.612.940
-44,37

(Ng.Hương)
[Continue reading...]
 
Copyright © . DIỄN ĐÀN XNK VIỆT NAM - Posts · Comments
Theme Template by BTDesigner · Powered by Blogger